Tuesday, July 24, 2012
NGHE NÀY!
Cả nhà nghe âm thanh của 50 năm tuổi đời nhé.
Nhìn hình dạng và âm thanh của đờn xem nó đáng giá bi nhiu?
Auction trị giá nó khoảng $5000. Đến ngày 31 tháng 8 là chấm dứt đấu giá.
Hiện tại giá BID của nó là $2000, và chưa có ai trả cao hơn ;))
Stevie plays the "Bob" guitar to by auctioned by Charles Krug Winery
Sunday, July 1, 2012
Wednesday, January 4, 2012
EUGEN DOGA
Hôm qua, trong hồ spa, Lu của cả nhà tình cờ phát hiện một điều hơi bị hay.
Rằng, các nhà soạn nhạc Nga là bậc thầy chuyên về những điệu Waltz du dương.
Cả nhà đã biết Dmitri Shostakovich Với bài "The Second Waltz" bất hủ, hôm nay Lu giới thiệu đến nhà soạn nhạc Eugen Doga.
Ông là một composer Moldovan (Romanian) nổi tiếng.
Sinh năm 1937, Eugen đã viết nhiều bài nhạc cho hơn 200 movies, "Wedding at the palace", "Alone in the love", "Ten winters in a summer", "delayed explosion", "Length of Day", "House for Serafim", "Fiddlers", "Queen of the Gypsies", "delicate and tender my beast", "Anna Pavlova", "Bed of Procust" etc…
Đặc biệt, những tác phẩm ông viết cho films "Lautarii", "O Satre urca the cer", "Ana Pavlova", "Gingaşa Tandra mea şi fiar", và vở ballet "Luceafărul" đã trở thành di sản văn hóa bất tử cho Moldova.
Hị hị, bi giờ cả nhà cùng mí Lu nghe thử bài Waltz "Gramofon" nhé.
Muốn sành điệu hơn một xí, cả nhà phải té vào bồn tém rùi tẩm nước đầy người như Lu, để cảm nhận được tiếng bí bách của từng giọt nước lăn dài, đu đưa cùng giai điệu...
Friday, January 21, 2011
SYMPHONY (4)
Vào năm 1954, người chỉ huy dàn nhạc của nhà hát Bolshoi, Vassili Nebolsin, đã lúng túng khi tìm bài mở màn cho buỗi hòa nhạc kỹ niệm lần thứ 37 cách mạng tháng mười Nga, tại Mosco.
Vassili liên lạc với Shostakovich chỉ vài ngày trước khi buỗi concert ra mắt, để xin ý kiến. Và trong ba ngày ngắn ngũi, nhà soạn nhạc đã viết ra khúc mở màn Festive Overture với nhịp điệu thật hùng hồn.
Festive Overture của Shostakovich có một chút gì đó mang âm hưởng Ruslan and Ludmilla overture của Glinka sáng tác năm 1842.
Lu lại chỉ thích bài Festival Overture 1812 của Tchaikovsky hơn.
Tạm ngưng ở đây héng, Lu phải đi mần việc. Sẽ tám tiếp đến thể loại Overture của Symphony.
Thursday, November 18, 2010
SYMPHONY (3)
WOLFGANG GOTTLIED MOZART
Vào một đêm tháng giêng năm 1756 tại thành phố Salzburg, Austria, có một đứa bé vàng đã ra đời.
Mười giờ sáng ngày hôm sau, người chồng Leopold Mozart cùng vợ Anna Maria, đã mang đứa bé ấy đến nhà thờ cho cha đạo rửa tội. Họ đã chọn một cái tên thật dài cho đứa con, "Joannes Chryostomus Wolfgang Gottlied Mozart".
"Gottlied" có nghĩa là niềm dấu yêu của thượng đế. Đứa bé ấy ngày nay được cả thế giới tôn vinh là một trong những thiên tài âm nhạc của thế kỷ, Wolfgang Amdeus Mozart (1756-1791).
Đứa bé ấy còn vượt xa hơn hai chử thiên tài. Tên Mozart đã gắn liền với những kỳ tích, những điều kỳ diệu, vượt quá khả năng con người. Nhưng, chử tài liền với chử tai một vần, hình như những thiên tài thường hay chết yểu. Cuộc đời họ hầu như không mấy khi được hạnh phúc và may mắn. Mozart chỉ sống vỏn vẹn có 35 năm.
Đời sống ngắn ngũi của thiên tài âm nhạc mà cả Châu Âu đã là sàn chơi của ông ta, và các bậc vua chúa là những vị khán giả trung thành cho những khúc nhạc giao hưởng tuyệt vời nhất thế kỷ ấy, lại khốn khó trong bệnh tật, nghèo đói, kém may mắn, và không có được những khích lệ động viên.
Mozart đã chết trẻ trong sự thiếu thốn, hơn 600 sáng tác xuất sắc của ông hiện nay đang là tài sản của nền âm nhạc giao hưởng thế giới.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Từ khi còn nằm nôi, Mozart đã được lắng nghe tiếng nhạc. Có thể nói Mozart thức giấc trong âm nhạc và ngủ cũng trong âm nhạc. Cái không khí ông thở chung quanh từ lúc bé đã tràn ngập những âm thanh, của Piano, của Violon, vẵng lại từ phòng khách. Đó là nơi mà người cha, Leopold Mozart, mỗi ngày luyện tập và giảng dạy cho những đứa bé khác trong thành phố Salzburg.
Mặc dù Mozart chưa đến tuổi biết nói, nhưng người cha đã sớm nhận ra đứa con có thể phân biệt được những nốt nhạc nào là dấu giáng (flat) và nốt nào là dấu thăng (sharp). Khi vừa chập chững bước đi, đứa bé thiên tài đã bò đến vọc những phím đàn và rất thích thú khi nghe âm thanh vang lên.
Thầy dạy nhạc cho Mozart chính là người cha, Leopold Mozart. Khi mới 3 tuổi, thay vì nghịch ngợm với những món đồ chơi dành cho trẻ nít, Mozart lại đặc biệt thích thú đến những giờ ông bố giảng dạy nhạc cho đứa con gái lớn, Nannerl. Bà mẹ phải thốt lên khi thấy Mozart chỉ thích sờ tay nghịch ngợm vào phím đàn, và những tờ giấy ghi chép nốt nhạc.
- “Nó vẫn còn nhỏ lắm để mà học đàn!”.
Nhưng ông bố chỉ mĩm cười, và đặt những ngón tay của đứa con trai thiên tài lên bàn phím cho nó tự do nghịch phá. Lúc đầu chỉ để cho vui, nhưng sau đó ông đã chỉ cách làm sao giữ ngón tay và nhấn nó xuống để có thể phát ra âm thanh. Thật đầy bất ngờ, hình như không có một sự cố gắng nào cả, như một món đồ chơi đơn giản, đứa bé vàng này đã có thể chạy phím bằng cả hai tay. Những âm thanh vang lên chính xác một cách kì lạ.
Khi lên bốn, Mozart đã chơi được những đoạn nhạc Minuet đơn giản. Có thể nói Mozart là một composer trẻ nhất trong lịch sử âm nhạc. Một đứa bé 5 tuổi chưa đến trường và chưa tự viết ra được những nốt nhạc, nhưng đã biết sáng tác những đoạn ngắn theo cảm hứng bằng cách đánh ngay trên đàn piano. Người cha đã làm công việc của một thư ký, lắng nghe và ghi chép lại cho cậu con trai.
Cho đến một hôm, ông bố trở về nhà cùng với người bạn thân, Schachtner một nghệ sĩ trumpet trong hoàng cung, đã ngạc nhiên khi thấy Mozart ngồi ngay ngắn trên bàn và hí hoáy cây bút viết liên tục xuống một tờ giấy. Ông bố kêu lên.
- “Con đang nghịch gì đấy?”
-“À, con đang viết một bài concert, cũng gần xong rồi bố ạ!”
-“Cho bố xem nào?”
-“không được, con vẫn chưa viết xong mà.”
-“Không sao, cứ cho bố xem. Bố nghĩ nó sẽ là cái gì hay ho đấy!”
Ông bố cầm lấy tờ giấy và đưa cho người bạn cùng xem. Cả hai bật cười lên khi thấy đó là một tờ nháp vấy đầy mực. Nó được viết đầy những nốt nhạc bị bôi xóa, viết chồng lên nhau. Nhưng, sau đó cả hai đã im lặng xem lại cẩn thận những dòng nhạc, và nhận ra đó là một bản sáng tác viết rất đúng và phức tạp. Ông bố bật kêu lên với dòng nước mắt không cầm được vì hãnh diện.
-“Xem này, Herr Schachtner!”
-“Bài sáng tác thật đúng và chuẩn đến mức không tin được. Thật tuyệt vời!...nhưng nó sẽ khó chơi vì lối hòa âm rất phức tạp.”
-“Thế mới đúng là concerto, bố ạ! con đã tập nó nhiều lần trước khi viết nó ra đấy, bố xem này!"
Mozart đi đến chiếc đàn dương cầm, cố gắng lướt những ngón tay nhỏ bé không đủ lớn để với đến tất cả các phím đàn. Thật đáng kinh ngạc, bài nhạc đã được chơi mang đầy đủ những giai điệu viết trên giấy. Với sáng tác đầu tiên khi chỉ mới 5 tuổi, Mozart đã biết diễn giải ra được phần nào viết dành cho piano và phần nào cho orchestra.
(còn tiếp)
Sunday, November 14, 2010
SYMPHONY (2)
PAPA HAYND
Nếu như gọi Bach là mẹ đẻ cưu mang hình hài ban đầu của dòng nhạc giao hưởng, thì ta có thể xem Joseph Haydn là người cha đã có công nuôi lớn và hình thành nên nó.
Nhà soạn nhạc người Áo này như một người thợ xây tận tâm, đã mang lại cho căn nhà nhạc giao hưởng một phong cách định hình mới và rõ nét.
Franz Joseph Haydn (1732-1809) là người đã góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển của nền âm nhạc giao hưởng thế giới. Hiếm có một nhà soạn nhạc nào, vào đầu thế kĩ 18, lại có thể sánh vai cùng Haydn trong việc kiên trì theo đuổi dòng nhạc này.
Gần nửa thế kỷ sáng tác, Haydn đã tạo nên 106 bản nhạc giao hưởng mang đầy tính đa dạng của thể loại classical. Phong cách sáng tác của Haydn vào những năm đầu sự nghiệp (1766) hơi bị gò bó, không có sự thoát thai từ những cảm hứng riêng. Vì ông đã viết theo ý thích của những người bảo trợ (patron), viết như một cái nghề để sinh tồn.
Mãi cho đến 15 năm cuối đời, khi đã nổi tiếng và đủ sức đứng riêng không còn lệ thuộc vào những nhóm đỡ đầu, những bản nhạc giao hưởng của ông mới thực sự mang dấu ấn của riêng của mình. Ông đã viết hàng loạt Masses, Sonatas, Trios, Divertimenti, etc.
Haydn có lối hòa âm mang tính dè dặt và cẩn thận trong việc chọn âm bậc mở đầu cho bài nhạc. Có thể thấy thí dụ khi so sánh về những bộ tứ âm vực của piano trong những bản Sonatas.
Bass, horns, trumpets, là những âm điệu được nhấn mạnh làm nền cho những bài giao hưởng của ông. Có nhiều sự đánh giá cho rằng, phong cách sáng tác của Haydn có phần nào gợi ý cho nhiều nhà soạn nhạc thế kỷ 19 rập khuôn theo.
Năm 1795, sự ra đời của Symphony No. 104 in D major “London”: III. Menuetto (Allgero) & Trio, đã đánh dấu sự chín mùi trong phong cách sáng tác của Haydn. Nó cũng góp phần khẳng định vị trí hàng đầu của ông, so sánh với những nhà soạn nhạc khác ở vào thế kỷ 18.
Vẫn với lối cẩn thận trong cách hòa âm, ông đã giử một âm điệu chính đi xuyên suốt bài nhạc. Tiết tấu nhạc khiêu vũ (folk-dance) vẫn là nền chính, chỉ thay đổi nhanh chậm theo từng khúc trung chuyển.
Tuesday, November 9, 2010
SYMPHONY (1)
JOHANN SEBASTIAN BACH
Symphony gọi theo tiếng Việt có nghĩa là NHẠC GIAO HƯỞNG. Thể loại nhạc này có quá trình phát triển đã hơn 250 năm bắt nguồn từ nhạc thánh ca (church music).
Trước những năm 1500, các buổi hòa nhạc trịnh trọng đều mang tính tôn nghiêm giáo phái, và luôn được thực hiện với dàn đồng ca trong nhà thờ. Vào thời kỳ này, nhạc cụ vẫn còn đơn điệu như trumpet, bell, cymbal, và violin. Ngày nay, chúng ta vẫn nhìn thấy nhiều hình vẽ Fresco, tiêu biểu cho loại hình nghệ thuật này, trên các bức tường của nhiều nhà thờ lớn trên thế giới.
Bước sang đầu thế kỷ 16 của thời kỳ phục hưng (Renaissance), các nghệ sĩ nhà thờ bắt đầu muốn thay đổi phong cách trình diễn. Họ cảm thấy sự đơn điệu ê a đều đều của mỗi buổi lễ, và từ đây đã hình thành nên những bước phát triển đầu tiên của thễ loại nhạc giao hưởng.
Nhạc cụ lúc này được đặt vai trò chính, dàn đồng ca thay đổi dần với lối độc diễn Opera. Giai điệu đã được các nhà soạn nhạc tạo thành một tổ hợp phức tạp. Nó du dương hơn, tinh tế hơn, và đa dạng hơn với đủ loại nhạc cụ, flute, trompet, violin, harpsichord, wood-wind, oboe, etc...
Và một thứ quan trọng nhất không thể thiếu trong những buổi hòa nhạc giao hưởng là basso continuo, một loại đàn bass thông dụng có từ thời Baroque.
Ta có thể vui miệng dịch hai chử giao hưởng là “hưởng” những thứ “giao” nhau không nhỉ? :))
Cũng có thể đúng một phần nào đấy, vì có đến 4 yếu tố góp phần tạo nên dòng nhạc này. Đó là The Suit (tổ khúc nhạc), Sonata (phần nào mang đặc tính giống The Suit), The Concert (một chuổi kết hợp các loại âm thanh nhạc cụ tuyệt vời có từ thời Baroque), và The Italian Overture (lối ca Opera có từ thế kỷ 17 thường thấy trong âm nhạc Châu Âu).
Nhà soạn nhạc người Đức Johann Sebastian Bach (1685-1750), với lối sáng tác đậm nét phong cách Baroque, được coi như là một trong những tiên phong mở đầu cho sự hình thành nhạc giao hưởng.
Ông đã kết hợp giữa nhạc thánh ca (sacred) và nhạc thế tục (secular) để biến nó thành một loại hình nghệ thuật công chúng gọi là Public Art.
Mặc dù sáng tác của ông không có sự đột phá mới, chỉ đơn thuần những tổ khúc (The Suit) thánh ca xen lẫn vũ điệu nhảy thời thượng cặp đôi Munuet ngày trước, nhưng ông đã để lại cho di sản âm nhạc thế giới một điễm sáng, đánh dấu sự ra đời của nhạc giao hưởng.
Orchestral Suit No.3 in D Major, gavotte (c.1720) là một tiêu biểu xuất sắc cho phong cách nhạc nhịp đôi (binary form) đều đều hơi chậm, đã từng là mốt khiêu vũ quý tộc thời đó với váy áo đuôi tôm xúng xính.

THE BEST OF BACH
BEST BAROQUE MUSIC COMPOSERS
Chú í : bi giờ Lu của cả nhà vừa có quyết định mới cực kì...đó là biết đủ thời đủ. Không tham lam ôm đồm nhiều thứ quá rồi không có time để enjoy life.
Lu không thèm học thêm thứ gì mới cả, mệt!
Vui thú điền ziên ngâm kíu nhạc giao hưởng tiếp. Thễ loại nhạc này Lu rất hứng thú vì tính kiên cố như thành trì của nó. Không dễ gì phá thủng để mờ hiểu dễ dàng Symphony, và Lu rất chi là ngưỡng mộ những composers nổi tiếng.
Lu sẽ viết tiếp những bài phân tích mờ 2 năm trước Lu đã bỏ rơi, cả nhà ai có cao kiến gì thì cứ góp ý thêm vào, cho bài viết Lu được thịnh soạn hơn nhe.
Sunday, January 3, 2010
MỘT THOÁNG BẤT CHỢT...
Hôm nay bất ngờ Lu tìm ra được câu trả lời cho ku thầy dạy nhạc. Ha ha, thì ra câu trả lời thật quá đơn giản mà Lu ngu si nghĩ mãi không thông. Hội họa cảm nhận bằng mắt thì âm nhạc nên cảm nhận bằng tai. Muốn ý tưởng âm nhạc sáng tạo không bị bí lối, không đơn điệu thì ta nên sáng tạo theo tiếng nói của tự nhiên, của âm thanh chung quanh ta.
Nà ná na...coi như đây là schedule cho năm mới của Lu. Năm mới với một vài ước mơ mới nho nhỏ, học cởi ngựa, học lái máy bay, và tìm ra được chân lý ý tưởng của âm nhạc đến từ âm thanh tự nhiên chung quanh ta.
Sunday, June 28, 2009
BLUES and JAZZ

Cảm thấy nhớ trường nên post tấm hình này lên cho đở ghiền...
------
Ku thầy phán rằng về nghe thử giữa Blues và Jazz, rồi viết bài phân tích cho ku ấy xem cái sự cảm nhận của mình như thế nào về chúng nó.
Lu post hai bài này lên cho cả nhà cùng nghe héng. Mặc dù Jazz và Blues hơi bị giống nhau nhưng Lu thích Blues hơn vì lối ca ấn tượng. Jazz đã biến tướng đi nên làn điệu nó nhẹ nhàng có vẻ flexible hơn. Vẫn thích nhạc Blues nên một chử thôi khi nghe bài của Tin Pan Alley "hay!"
Khi biểu diễn Blues, có vẻ như người nghệ sĩ đã ca bằng trái tim của mình, họ tập trung vào từng cách chạy và búng dây đàn tạo ra những âm thanh sắc sảo. Nét độc đáo riêng biệt của Blues là nó không chơi theo kiểu bình bình như Jazz, ca sĩ đã mang âm điệu của nó vút lên cao bổng rồi sau đó lại đem nó rớt xuống thật thấp với lối nhấn nhái ĩ ê thật ấn tượng. Người ca sĩ này làm cho Lu có cảm giác đang lượn lờ lên núi xuống đèo.
Blues is a vocal and instrumental form of music based on the use of the blue notes. It emerged in African-American communities of the United States from spirituals, work songs, field hollers, shouts and chants, and rhymed simple narrative ballads. The use of blue notes and the prominence of call-and-response patterns in the music and lyrics are indicative of African influence. The blues influenced later American and Western popular music, as it became the roots of jazz, bluegrass, rhythm and blues, rock and roll, heavy metal, hip-hop, and other popular music forms.
Jazz is an original American musical art form which originated around the beginning of the 20th century in African American communities in the Southern United States out of a confluence of African and European music traditions. The use of blue notes, call-and-response, improvisation, polyrhythms, syncopation and the swung note of ragtime are characteristics traceable back to jazz's West African pedigree. During its early development, jazz also incorporated music from New England's religious hymns and from 19th and 20th century American popular music based on European music traditions.
In jazz and blues, blue notes are notes sung or played at a lower pitch than those of the major scale for expressive purposes. Typically the alteration is a semitone or less, but this varies among performers. Country blues, in particular, features wide variations from the tonic but still with the blue-note feeling.
JAZZ
Nhạc Blues:
Nhạc Blues có nguồn gốc từ những bài ca lao động, tôn giáo và dân ca của người Mỹ da đen được khởi xướng vào đầu thế kỷ 20. Nhạc Blues thường buồn, vì thế nên có tên Blues (buồn). Khởi nguồn của Blues không đơn giản, đã có rất nhiều chuẩn mực về giai điệu, cách hoà âm được thiết lập, và những chuẩn mực này đã và vẫn đang được biểu diễn rộng rãi. Blues có thể rất buồn, hạnh phúc, chậm, nhanh, không lời, ca khúc. Lịch sử của các giọng hát nhạc blues được chia thành hai nửa. Mỗi nửa thể hiện một giai đoạn khác nhau. Nửa đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến những năm 1930. Nửa này ghi nhận hai phong cách hát blues riêng biệt. Phong cách thứ nhất có thể được coi là country hoặc rural-blues trong khi đó phong cách còn lại được gắn mác city hoặc urban-blues. Nhạc blues đồng quê được hát bởi những người đàn ông với nhạc cụ và phần nhạc đệm đơn giản. Những ca sỹ hát nhạc blues thời đó thường chỉ có cây guitar là nhạc cụ duy nhất để đệm cho mình. Ca từ cũng rất đơn giản và âm nhạc thật sự rất mộc mạc và không hề được gọt dũa. Một số ca sỹ nam nổi tiếng được ghi vào sử sách có thể kể tới là Lightnin' Hopkins, Huddie Ledbetter, Big Bill Broonzy, và Blind Lemon Jefferson. Nhạc blues thành phố bao gồm cả giọng ca của các ca sỹ nam và nữ. Âm nhạc ở đây tao nhã và tinh tế hơn nhạc blues đồng quê. Thay bởi phần nhạc nền đơn giản, những ca sỹ nhạc đồng quê thành phố còn có thể sử dụng một nhóm khiêu vũ nhỏ phụ hoạ. Bessie Smith, Ma Rainey, và Chippie Hill là những ca sỹ nổi tiếng nhất ở phong cách này. Sau năm 1930, phong cách nhạc blues bắt đầu thay đổi. Đi theo sự phát triển của các giọng ca blues, sự phát triển trình độ của một số các nhạc công cũng tăng lên đáng kể. Vào lúc này, những nghệ sỹ nhạc blues lớn có thể sử dụng nhạc cụ tốt như là giọng hát của họ. Vào thời gian khởi đầu, các nhạc công thường bắt chước phong cách của các ca sỹ nhưng đến thời điểm này một số ca sỹ cũng đã phải sao chép phong cách của các nhạc công lớn.
Nhạc Jazz:
Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học. Trong suốt những năm đầu tiên phát triển của đất nước Mỹ, chế độ sở hữu nô lệ được coi là một chuẩn mực. Nô lệ bị ép buộc đến từ châu Phi phải làm việc vất vả trong các đồn điền của người Mỹ. Những nhạc công và những tài năng âm nhạc trong số đó đã học được rất nhanh nền âm nhạc vốn có sẵn của phương Tây, cùng lúc đó, âm nhạc phương Tây cũng đã có không ít bài học về âm nhạc Phi châu. Nền văn hoá sơ khai của châu Phi coi trọng âm nhạc hơn phương Tây rất nhiều. Âm nhạc là một khía cạnh quan trọng trong những hoạt động hàng ngày của thổ dân châu Phi. Thổ dân châu Phi rất coi trọng các hoạt động theo nhịp điệu khá phức tạp và tiến bộ dựa trên một ca từ và giai điệu đơn giản. Những nét nhịp điệu này đã gắn liền với nô lệ châu Phi trong suốt thời gian họ bị bắt ép làm nô lệ ở Mỹ. Vì cách xa quê hương nên âm nhạc truyền thống một phần cũng không thể thể hiện chính xác được vì rất nhiều lý do, ví dụ như không được sử dụng các nhạc cụ châu Phi truyền thống. Có thể hiểu như một ban nhạc rock của các nghệ sỹ châu Phi khi biểu diễn ở Mỹ không được sử dụng bất cứ một cây guitar điện, một dàn trống… Tuy vậy, ban nhạc này vẫn đủ nội lực để có thể sử dụng các nhạc cụ có sẵn tạo ra âm nhạc của mình và điều này là chính xác đối với các nô lệ da đen ở Mỹ. Bên cạnh việc tìm các nhạc cụ mới, các nhạc sỹ châu Phi cũng đã mở rộng mình để tìm hiểu âm nhạc của phương Tây. Sự mở rộng này là khởi nguồn nảy mầm của nhạc jazz. Những ca từ, giai điệu, nhịp điệu, và cả văn hoá Tây phương không ít thì nhiều cũng đã dần thấm vào những người da đen. Tất nhiên, các nhạc sỹ da trắng cũng đã bị ảnh hưởng nhiều khi nghe nhạc của người da đen. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.
(*) Nguồn nhặt được trên một trang web
---
Old entry save for reference.


